Phòng tiêm chủng Thu Ba
Uncategorized

Hoại tử xương và hoại tử xương hàm mặt.

I. Khái quát về hoại tử xương:

  • Hoại tử xương là tình trạng nhồi máu khu trú của xương
  • có thể do nguyên nhân cụ thể hoặc tự phát.
  • Bệnh có thể gây đau, hạn chế vận động, phá hủy khớp và thoái hóa khớp thứ phát.
  • Chẩn đoán dựa vào Xquang và MRI.
  • Ở giai đoạn đầu, các thủ thuật ngoại khoa có thể làm chậm hoặc ngăn chặn quá trình tiến triển bệnh.
  • Giai đoạn sau, cần thay khớp để giảm đau và duy trì chức năng vận động của khớp.

HOẠI TỬ XƯƠNG HÀM:

  • Hoại tử xương hàm là tổn thương hàm mặt gồm xương khẩu cái và xương hàm.
  • Nó có thể gây đau hoặc có thể không có triệu chứng.
  • Chẩn đoán khi có sự bộc lộ xương ít nhất 8 tuần.

II. Nguyên nhân và cái yếu tố gây hoại tử xương:

Có 2 dạng hoại tử xương, gồm:

1.Hoại tử xương do chấn thương xương

  • Hoại tử xương đa phần xảy ra ở những người có tiền sử chấn thương, trong đó gãy xương đùi chiếm đa số.
  • Bong gân, trật khớp, sai khớp cũng tìm ẩn nguy cơ gây hoại tử xương.
  • Tỉ lệ hoại tử xương sau trật khớp chủ yếu là do tổn thương không được chữa xử lý sớm.
  • Gãy xương hoặc trật khớp có thể làm đứt hoặc chèn ép mạch máu kế cận dẫn tới hoại tử xương.

2. Hoại tử xương không do chấn thương:

  • Nguy cơ hoại tử xương khi dùng prednisone hoặc corticosteroid  liều cao trong nhiều tháng ( > 20mg/ngày)
  • Nam giới thường bị nhiều hơn nữ giới.
  • Nhóm đối tượng nguy cơ thường từ 30 – 60 tuổi.

Tổng hợp các yếu tố gây ra hoại tử xương không do chấn thương:

hoại tử xương hàm mặt

Các triệu chứng

  • Các vùng bị ảnh hưởng do hoại tử xương có thể vẫn không có triệu chứng trong vài tuần tới vài tháng sau khi bị tổn thương mạch máu.
  • Thường đau sau đó phát triển dần dần, mặc dù cũng có thể diễn biến cấp tính.
  • Cùng với xẹp tiến triển của khớp, đau tăng lên và bị nặng hơn khi vận động và chịu trọng lực, giảm khi nghỉ ngơi.
  • Trong bệnh hồng cầu hình liềm, hoại tử xương có thể xảy ra ở các xương dài khác nhau và gây ra các cơn đau đột ngột.

III.Các triệu chứng khớp đặc hiệu

  • Hoại tử  khớp háng gây ra đau vùng háng có thể lan xuống đùi hoặc vào mông. Hạn chế vận động và thường đi lại khó khăn.
  • SPONK thường gây đau khớp gối đột ngột mà không có chấn thương; sự khởi phát đột ngột và vị trí đau có thể giúp phân biệt với hoại tử xương cổ điển. Đau thường ở mặt trong lồi cầu xương đùi và mâm chày, thường có đau khi khám, không viêm, tràn dịch khớp, đau khi vận động và khó đi lại.
  • Hoại tử chỏm xương đùi thường gây ra ít đau và tàn tật hơn khớp háng và gối
  • Với hoại tử hoại tử tiến triển, bệnh nhân có đau và giảm vận động, mặc dù vận động thụ động ít ảnh hưởng hơn vận động chủ động. Tràn dịch có triệu chứng có thể xảy ra, đặc biệt là ở khớp gối, và dịch khớp không viêm.

Tia X và MRI là là phương pháp dùng để chẩn đoán Hoại tử xương

Các dấu hiệu nghi ngờ với những triệu chứng sau đây:

 

  • Gãy xương liên quan tới tăng tỷ lệ mắc hoại tử, đặc biệt nếu vẫn đau hoặc nặng lên.
  • Đau dai dẳng tại khớp háng, gối, hoặc vai, đặc biệt nếu có các yếu tố nguy cơ đối với hoại tử xương
  • Nên chụp X-quang ban đầu. Phim có thể không có bất thường trong nhiều tháng.
  • Những phát hiện sớm nhất là các vùng xơ hóa và tăng thấu quang.
  • Dấu hiệu trăng lưỡi liềm dưới sụn do gãy xương ở đầu xương. Tiếp theo có xẹp đại thể bề mặt sụn khớp và những biến đổi thoái hóa rõ.

 

Khi nghi ngờ lâm sàng cao nhưng chụp X quang bình thường hoặc không rõ chẩn đoán, nên chụp MRI vì độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn. Nên chụp cả 2 khớp háng. Xạ hình xương có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn MRI nên ít được chỉ định hơn. Hiếm khi chụp CT, mặc dù đôi khi có giá trị để phát hiện tổn thương khớp không có trên XQ và đôi khi không xuất hiện trên MRI.

 

Các xét nghiệm bình thường và có ít giá trị trong việc phát hiện hoại tử xương. Tuy nhiên, chúng có thể giúp phát hiện các bệnh lý đi kèm (ví dụ, rối loạn đông máu, bất thường hemoglobin, rối loạn lipid máu).

Nguồn: https://www.msdmanuals.com/

14 / 100
Bài viết liên quan